Ngân hàng sợ “tay không bắt giặc” với bất động sản

Nhiều doanh nghiệp bất động sản kiến nghị ngân hàng chấp thuận thế chấp dòng tiền, thay vì thế chấp bất động sản. Tuy vậy, theo các chuyên gia, đề xuất này là bất khả thi.

Ông Phạm Thiếu Hoa, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Vinhomes cho hay, hiện nay, các ngân hàng chỉ giải ngân cho khách hàng vay có tài sản đảm bảo bằng bất động sản. Còn các tài sản khác như máy móc, thiết bị, cổ phiếu niêm yết… không được chấp nhận là tài sản đảm bảo.

Mặc dù quy định hiện hành không bắt buộc tài sản thế chấp, song hầu hết các ngân hàng đều chỉ giải ngân dựa trên tài sản đảm bảo. Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA) cho rằng, việc các ngân hàng thương mại không quan tâm đến dòng tiền của các dự án bất động sản, mà chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp là bất cập lớn hiện nay trong tín dụng bất động sản. Điều này dẫn tới nhiều dự án khả thi, nhưng không thể tiếp cận được vốn ngân hàng.

Ngoài ra, khoảng 70% tài sản thế chấp cho các khoản vay tín dụng là bất động sản, nhà, đất, nên tiềm ẩn rủi ro cho các tổ chức tín dụng và cho cả doanh nghiệp làm ăn chân chính.

Ví dụ, doanh nghiệp A có bất động sản B có giá trị 100 tỷ đồng là tài sản bảo đảm của khoản vay tín dụng. Trong điều kiện thị trường bình thường, bất động sản này được ngân hàng định giá tối đa khoảng 70 tỷ đồng và cho vay khoảng 42-49 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong điều kiện thị trường bị suy thoái, bất động sản B chỉ được ngân hàng thương mại định giá 50 tỷ đồng, nên chỉ cho vay tối đa 35-42 tỷ đồng. Nếu doanh nghiệp A mất khả năng trả nợ, thì có thể chỉ thu hồi được một phần nhỏ (hoặc thậm chí không thu hồi được phần nào) của tài sản thế chấp.

Theo HoREA, ngân hàng cho vay dựa trên dòng tiền, vì không đủ nhân lực để thẩm định. Hơn nữa, việc thẩm định dòng tiền cũng đòi hỏi chi phí lớn. Song, phía doanh nghiệp vay vốn sẵn sàng thanh toán chi phí thẩm định này để ngân hàng chấp thuận cho vay theo dòng tiền.

“Theo tôi, nên bổ sung quy định: khách hàng thỏa thuận với tổ chức tín dụng thuê đơn vị tư vấn độc lập thực hiện thẩm định tính khả thi của dự án đầu tư, trong đó có thẩm định dòng tiền của Dự án; chi phí thẩm định do khách hàng thanh toán, để làm cơ sở cho tổ chức tín dụng xét duyệt cấp tín dụng. Cơ chế này rất phù hợp và đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp có uy tín thương hiệu, có năng lực tài chính và có dự án đầu tư quy mô lớn”, ông Châu đề xuất.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư, TS. Lê Xuân Nghĩa cho rằng, tín dụng đóng băng do đang có “khủng hoảng niềm tin” giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần vốn, nhưng không thể chứng minh khả năng trả nợ, lại không có tài sản đảm bảo. Trong khi đó, ngân hàng ế vốn, song lại không dám cho vay, vì không nhìn thấy phương án khả thi.

Việc đòi hỏi tài sản đảm bảo ít hay nhiều phụ thuộc vào khẩu vị rủi ro từng ngân hàng, vào đặc điểm mỗi dự án, uy tín từng khách hàng cụ thể. Theo các ngân hàng, doanh nghiệp bất động sản luôn muốn ngân hàng đặt niềm tin, song bản thân nhiều doanh nghiệp lại chưa sòng phẳng, chưa tạo được niềm tin với ngân hàng.

Ông Nguyễn Đức Vinh, Tổng giám đốc VPBank cho rằng, bản thân doanh nghiệp cần nhìn lại và thay đổi chính mình xem đã hoạt động lành mạnh, minh bạch thông tin chưa.

“VPBank là một trong những ngân hàng cho vay bất động sản nhiều nhất thị trường, nhưng đến giờ, chính chúng tôi cũng thấy sợ”, ông Vinh chia sẻ.

Theo ông Vinh, VPBank luôn sẵn sàng cho vay các dự án bất động sản đầy đủ pháp lý, song cũng rất sợ các doanh nghiệp “ôm” khư khư cùng lúc 30-40 dự án không thể triển khai, mà cũng không chịu bán bớt để trả nợ, chỉ ngồi chờ ngân hàng hỗ trợ, gia hạn.

Lãnh đạo một ngân hàng cũng cho hay, doanh nghiệp khi làm hồ sơ vay luôn lựa chọn các thông tin tốt nhất, hào nhoáng nhất để gửi cho ngân hàng. Trong khi đó, thông tin mà bản thân ngân hàng tự thu thập được lại cho bức tranh ngược lại. Vì vậy, việc cho vay chỉ dựa vào dòng tiền mà doanh nghiệp đưa ra là rất rủi ro.

Vấn đề tài sản đảm bảo đến nay vẫn chưa tìm được tiếng nói chung giữa ngân hàng và doanh nghiệp. Dù vậy, cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp đều kiến nghị Ngân hàng Nhà nước đánh giá lại hệ số rủi ro với bất động sản, tùy từng phân khúc, thay vì áp đồng thời ở mức 200% như hiện nay. Đồng thời, nên gia hạn Thông tư 02/2023/TT-NHNN về cơ cấu nợ và giữ nguyên nhóm nợ để tháo gỡ khó khăn cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.

Theo các doanh nghiệp, ngân hàng, thời gian cơ cấu nợ, giãn nợ nên kéo dài 24 tháng, thay vì 12 tháng như hiện tại, áp dụng chung cho cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân, bởi đến nay, Thông tư 02/2023/TT-NHNN sắp hết hiệu lực, mà doanh nghiệp vẫn rất khó khăn.

Nghiêm cấm ngân hàng, công ty tài chính ký hợp đồng biến tướng với các công ty mua bán nợ

Đại diện Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an cho biết, thời gian qua đã triệt phá rất nhiều đối tượng núp bóng công ty luật, công ty tài chính mua lại các khoản nợ xấu, nợ khó đòi sau đó gọi điện đe dọa, cưỡng đoạt tài sản.

Ông Bùi Đức Tài, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự – Bộ Công an cho biết, lợi dụng những khó khăn của tình hình kinh tế – xã hội, tình hình tội phạm và vi phạm phát luật liên quan đến hoạt động tín dụng đen có những diễn biến phức tạp. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng, Bộ Công an vừa mở đợt tấn công trấn áp tội phạm tín dụng đen.

Qua đấu tranh triệt phá, cơ quan công an phát hiện đối tượng người nước ngoài gồm Trung Quốc, Nam Phi, Nga… đến Việt Nam thành lập, thu mua, thuê người đứng tên doanh nghiệp có chức năng cầm đồ, tư vấn, kinh doanh tài chính, tuyển dụng nhân viên để sử dụng các ứng dụng, website cho vay lãi nặng với lãi suất trên 1000%/năm, sau đó móc nối với một số nhân viên ngân hàng, công ty trung gian thanh toán, ví điện tử để giải ngân, thu hồi các khoản vay. Chính các ngân hàng là đối tượng mà chúng hướng tới, lợi dụng và thực hiện hành vi lừa đảo.

Một số đối tượng núp bóng doanh nghiệp, công ty luật, công ty tài chính mua lại các khoản nợ xấu, khó đòi, nợ của các ứng dụng cho vay, nợ của các công ty tài chính, ngân hàng để đòi nợ.

Hành vi đòi nợ của các đối tượng này thể hiện ở ba cấp độ khác nhau gồm: Gọi điện đe dọa, chửi bới khách hàng để yêu cầu phải trả tiền; Gọi điện đe dọa, kể cả dọa giết người vay, đưa các hình ảnh của người vay lên mạng xã hội để bôi nhọ; Ném chất thải vào nhà, có trường hợp mang cả quan tài, can xăng đến nhà người vay vốn để đòi nợ.

Thời gian qua, lực lượng công an đã triệt phá hàng loạt vụ việc núp bóng để xử lý hành vi cưỡng đoạt tài sản. Sau đó, hoạt động tội phạm có dấu hiệu tan rã, hoạt động cầm chừng, co cụm, gọi điện nhắn tin khủng bố có giảm.

Điển hình như Công an Tp.HCM triệt phá các băng nhóm núp bóng Công ty Luật TNHH Power Law, Công ty TNHH Luật Thế hệ trẻ… Tiếp tục kiểm tra các Công ty TNHH Dịch vụ Galaxy DR, Chi nhánh một số công ty tài chính, tuy nhiên các công ty này đã đối phó, giải thể bộ phận thu hồi nợ, chuyển sang địa bàn khác, chia lẻ các nhân viên hoạt động tại nhà riêng…

Công an tỉnh Tiền Giang đấu tranh chuyên án triệt phá băng nhóm cưỡng đoạt tài sản núp bóng công ty Luật TNHH Pháp Việt với 415 nhân viên chuyên mua lại các khoản nợ, đòi nợ thuê cho các chi nhánh ngân hàng, các công ty tài chính với tổng trên 2,6 triệu hợp đồng để hưởng hóa hồng từ 4 – 35%/hợp đồng (số hợp đồng đòi nợ là trên 500.000 hợp đồng vay), đã đòi nợ được từ 27.791 hợp đồng vay số tiền trên 100 tỷ đồng). Đến nay (tháng 8/2023) đã khởi tố 111 bị can về cưỡng đoạt tài sản.

Công an tỉnh Quảng Nam kiểm tra Công ty TNHH Legal Aplus (công ty luật) với khoảng 25 nhân viên thuê luật sư đứng tên đại diện pháp luật, có bộ phận thu hồi nợ, chuyên cắt ghép hình ảnh vu khống.

Công an TP.Hà Nội đấu tranh Chuyên án triệt phá băng nhóm núp bóng 7 Công ty, gồm Công ty Cổ phần đầu tư Omnia, Công ty TNHH thu hồi nợ CR, Công ty Luật TNHH Kiên Cường; Công ty TNHH Mua bán nợ DSP; Công ty TNHH Mua Bán nợ; Công ty CP DV tài chính Kiên Long, Công ty CPDV Bắc Án; Công ty CP DV tài chính Nam Á Lữ Gia với 119 nhân viên hoạt động đòi nợ thuê với các bộ phận kế toán, data khách hàng, IT -kỹ thuật, thu hồi nợ. Đến nay đã khởi tố 36 bị can.

Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này, theo Cục Cảnh sát hình sự là có thiếu sót  trong quản lý hoạt động của các chi nhánh ngân hàng thương mại, công ty tài chính (bộ phận thu hồi nợ) để các đối tượng móc nối, ký kết các hợp đồng mua bán nợ, ủy quyền thu hồi nợ, tư vấn pháp lý, tư vấn tài chính… nhưng thực chất là đòi nợ thuê.

Đồng thời, chưa kịp thời rà soát, phát hiện, kiến nghị xử lý đối với các doanh nghiệp không phải tổ chức tín dụng nhưng kinh doanh dịch vụ cho vay (công ty cổ phần đầu tư, kinh doanh dịch vụ tài chính…).

Do đó, Cục Cảnh sát hình sự kiến nghị rà soát, khắc phục sơ hở trong quy định, quy trình nghiệp vụ liên quan đến hoạt động của các bộ phận thu hồi nợ, xử lý nợ xấu. Nghiêm cấm các hành vi ký kết các hợp đồng biến tướng với các doanh nghiệp khác để giải ngân cho vay, mua bán nợ, đòi nợ thuê; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. 

Tín dụng đen lan rộng thời gian gần đây, theo Bộ Công an là do tình hình sản xuất, kinh doanh, nhu cầu việc làm vẫn gặp nhiều khó khăn, nhu cầu vay vốn của người dân tăng cao, trong khi chưa đáp ứng các yêu cầu, điều kiện vay vốn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Một bộ phận người dân vẫn giữ thói quen tiêu dùng, vay vốn qua tín dụng đen. Chế tài xử lý hành vi liên quan tín dụng đen chưa đủ sức răn đe…

Tuy vậy, nhiều chuyên gia cho rằng, sở dĩ tín dụng đen bùng phát mạnh trở lại do các công ty tài chính tiêu dùng chính thống chưa được bảo vệ, tiêu biểu là tình trạng bùng nợ lan rộng, khiến các công ty này co hẹp hoạt động, buộc người dân phải tìm đến tín dụng đen.

Liên quan đến tình trạng “bùng” nợ, theo Cục Cảnh sát hình sự, nguyên nhân là nhận thức và ý thức cảnh giác của một bộ phận người dân vẫn còn chưa cao.

“Lợi dụng việc cơ quan chức năng xử lý các đối tượng cưỡng đoạt tài sản núp bóng các công ty tài chính, mua bán nợ, doanh nghiệp, công ty luật, một số người vay vốn của hệ thống ngân hàng, công ty tài chính cố tình “chây ỳ” trả nợ, một số đối tượng thành lập các hội, nhóm lôi kéo, hướng dẫn cách “bùng nợ” gây ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống tín dụng chính thống, phát sinh nhiều chi phí, rủi ro, buộc hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng, công ty tài chính phải siết chặt các quy định, điều kiện cho vay để đảm bảo an toàn nguồn vốn, hạn chế nợ xấu, dẫn đến một số người dân tiếp cận vốn tín dụng khó khăn do không đáp ứng điều kiện vay nên nguyên nhân, điều kiện của hệ thống tín dụng đen chưa giải quyết triệt để, vẫn phức tạp”, ông Tài thừa nhận.

Ngân hàng “tắc” bán nợ nhỏ lẻ theo lô vì thị trường không có bên mua

Nợ xấu cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng lên tới hàng nghìn món, việc thu hồi quá tốn kém chi phí và nguồn nhân lực, trong khi việc bán danh mục khoản nợ này không thực hiện được vì thị trường không có bên mua.

Hàng loạt ngân hàng đang gặp khó khăn trong xử lý nợ xấu cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo. Nguyên nhân là ngân hàng không đủ nhân lực để tự xử lý hàng nghìn khoản nợ xấu nhỏ lẻ, trong khi việc bán theo lô các khoản nợ này như trước đây là không thể.

Tại Ngân hàng BIDV, cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo có quy mô 30.000 tỷ đồng dư nợ, chiếm gần 8% tổng dư nợ cho vay khách hàng cá nhân. Hiện nợ xấu cho vay tiêu dùng của BIDV ở mức thấp (1%) song việc thu hồi nợ rất khó khăn.

“Nợ xấu cho vay tiêu dùng không tài sản đảm bảo tại BIDV chưa đến 1%/tổng dư nợ vay tiêu dùng, nhưng số lượng khoản vay lên đến hàng nghìn, vì vậy, công tác thu hồi gặp nhiều khó khăn do mất nhiều nguồn nhân lực để thực hiện việc này. Thực tiễn việc bán danh mục các khoản nợ này không thực hiện được do thị trường không có Bên mua, do đặc điểm quy mô khoản vay nhỏ và không có tài sản đảm bảo. Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng không thuê được các dịch vụ thu hồi nợ, do Luật Đầu tư cấm doanh nghiệp kinh doanh các dịch vụ trong lĩnh vực thu hồi nợ”, đại diện BIDV cho hay.

Những năm trước, các ngân hàng, công ty tài chính thường bán theo lô các khoản nợ xấu cho vay tiêu dùng này cho các công ty thu hồi nợ, các công ty tư vấn luật. Tuy nhiên, thời gian qua, không ít các công ty này đòi nợ theo hình thức cực đoan, khủng bố, bị công an xử lý.

Trong khi thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn thì việc phát mại, khởi kiện qua tòa án thường kéo dài, tốn kém nhiều chi phí.

“Thực tế có nhiều khoản vay từ lúc khởi kiện đến lúc thi hành án, phát mại tài sản các tổ chức tín dụng thường mất thời gian khoảng 2 – 3 năm để hoàn tất việc thu hồi nợ. Tòa án Nhân dân tối cao đã có văn bản hướng dẫn giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn, nhưng để áp dụng, việc hoàn thiện các thủ tục theo yêu cầu của tòa án lại khó khăn (xác nhận công nợ, tài liệu về nơi cư trú của người bị kiện…). Tuy nhiên, trên thực tế, tòa án cấp cơ sở chưa thống nhất triển khai quy trình rút gọn, còn tâm lý e ngại”, BIDV cho biết.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng đang thấp thỏm vì Nghị quyết 42 về thí điểm xử lý nợ xấu sẽ hết hiệu lực vào ngày 31/12/2023, nếu không có quy định thay thế hoặc gia hạn kịp thời sẽ làm chậm lại việc tái cơ cấu, thu hồi nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng. 

Để hạn chế nợ xấu phát sinh và đẩy nhanh tốc độ thu hồi nợ xấu, BIDV đề nghị Ngân hàng Nhà nước xây dựng hệ thống cổng kết nối công nghệ thông tin với Bộ Công an (Trung tâm RAR) theo chuẩn chung để các tổ chức tín dụng thực hiện kết nối với hệ thống chấm điểm thông qua cổng kết nối này, tương tự việc Ngân hàng Nhà nước đang đầu mối là trung gian kết nối hệ thống xác thực trực tuyến định danh điện tử để các tổ chức tín dụng có cơ sở tín nhiệm tốt hơn khi ra quyết định cho vay.

BIDV cũng kiến nghị cần có Trung tâm dữ liệu quốc gia về bất động sản, tài sản thế chấp, về định giá cho phép các tổ chức tín dụng kết nối để tra cứu thông tin làm cơ sở để định hạng tín dụng và số hóa trong cho vay, hạn chế tối đa rủi ro phát sinh.

Đồng thời, sớm luật hóa quy định về xử lý nợ xấu thay thế sau khi Nghị quyết 42 của Quốc hội hết hạn ngày 31/12/2023 để đảm bảo sự vận hành thông suốt của hệ thống ngân hàng.

Về phía tòa án, BIDV kiến nghị hệ thống tòa án giảm thời gian thụ lý các cấp sơ thẩm, phúc thẩm xuống dưới 3 tháng mỗi cấp xét xử và kiến nghị hệ thống thi hành án giảm thời gian xử lý phát mại tài sản sau khi có quyết định của tòa án xuống dưới 3 tháng để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có thể đẩy nhanh việc xử lý tài sản, thu hồi nợ vay.

Co hẹp cho vay vì bùng nợ, tín dụng của công ty tài chính giảm tới 33%

Sáng nay (16/11), Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam tổ chức hội thảo thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng của các tổ chức tín dụng và vấn đề thu hồi nợ hiện nay.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng Thư ký Hiệp hội ngân hàng cho biết, đến cuối tháng 9/2023, dư nợ tín dụng tiêu dùng đạt khoảng 2,7 triệu tỷ đồng, tăng 1,53% so với cuối năm ngoái. Trong đó, riêng cho vay của nhóm công ty tài chính chỉ đạt 134.279 tỷ đồng. Như vậy, so với cuối năm ngoái, tín dụng của nhóm công ty tài chính sụt giảm tới 33%.

Trong khi tín dụng suy giảm mạnh, thì nợ xấu nhóm công ty tài chính lại tăng nhanh. Tỷ lệ nợ xấu của các công ty tài chính có nguy cơ tăng trên 15%, nhiều công ty lâm vào tình trạng khó khăn, thậm chí thua lỗ do phải trích dự phòng rủi ro nợ xấu tăng cao.

Theo ông Hùng, tỷ lệ nợ xấu cho vay tiêu dùng ngày càng tăng cao, ngoài những yếu tố khách quan với khó khăn chung, còn có những yếu tố chủ quan và rất nguy hiểm mà chưa có chế tài xử lý đó là khách hàng cố tình không trả nợ, người trước khuyên người sau không trả nợ, thậm chí cán bộ công ty đến đòi nợ hoặc nhắc nợ thì chống đối, tố cáo, vu khống cán bộ là dùng biện pháp mạnh động để đòi nợ đến chính quyền; Các hội nhóm rủ nhau “bùng nợ” tràn lan trên mạng xã hội kéo theo nhiều hệ lụy cho các tổ chức tín dụng, nhưng không bị xử lý…

“Tất cả những điều trên làm cho hoạt động thu hồi nợ, đặc biệt là nợ tín dụng tiêu dùng của tổ chức tín dụng gặp rất nhiều khó khăn, một số tổ chức tín dụng buộc phải chủ động cắt giảm danh mục cho vay tiêu dùng, tránh nợ xấu tiếp tục phát sinh”, Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng nói.        

Phát biểu tại Hội thảo, Phó thống đốc Đào Minh Tú cho biết, cho vay phục vụ đời sống, tín dụng tiêu dùng được đánh giá là một lĩnh vực tiềm năng. Tại các nước phát triển, tỷ lệ tín dụng tiêu dùng ở mức cao. Tại Việt Nam, khi điều kiện kinh tế, thu nhập của người dân ngày càng tăng, vượt qua ngưỡng của các nước đang phát triển thì việc vay tiêu dùng và cho vay phục vụ tiêu dùng là nhu cầu hết sức khách quan và cần thiết của xã hội.

Phó thống đốc đặt câu hỏi: “Vì sao tín dụng tiêu dùng giảm? Do giảm nhu cầu của nền kinh tế hay do tổ chức tín dụng, hay do cơ chế chính sách chưa đảm bảo được để hoạt động này phát triển?”, ông Tú yêu cầu làm rõ.

Phó thống đốc cho rằng, hiện nay, cho vay tiêu dùng đang có vấn đề. Quan hệ cho vay giữa công ty tài chính với người vay đang không tích cực. Vay trốn nợ, quỵt nợ, đặc biệt thu hồi nợ đang là vấn đề nhức nhối. Hơn nữa, nếu như tín dụng chính thức giảm bao nhiêu thì tín dụng đen có cơ hội phát triển.

Một thực tế khác, đó là việc hiện tại có nhiều công ty tài chính trá hình, nhập nhằng giữa tổ chức không được hoạt động cho vay và các tổ chức được cấp phép hoạt động chính thức.

Ông Tú cho rằng, những vấn đề này cần được giải quyết, cần có quy định nếu không bản thân các công ty tài chính thức bị lấn át, bị mất niềm tin của thị trường.

Trong khi đó, ông Nguyễn Đình Đức, Phó Chủ nhiệm CLB Tài chính Tiêu dùng thì nhận định, tình trạng khách hàng “bùng nợ” tăng cao, bên cạnh lý do kinh tế suy thoái, bất ổn định, còn có lý do chính yếu và không kém quan trọng là sự đánh đồng, hiểu sai của xã hội về mô hình hoạt động của các công ty tài chính tiêu dùng chính thống với “tín dụng đen” sau khi phương tiện truyền thông đưa tin về việc cơ quan chức năng kiểm tra, phong tỏa trụ sở làm việc của các công ty tài chính tiêu dùng đã tạo nên sự hiểu nhầm các công ty tài chính này hoạt động phi pháp nên người vay không cần trả nợ.

Ngoài ra, các hình thức tín dụng đen trực tuyến như các trang thông tin điện tử, ứng dụng di động giả mạo, trá hình trên thị trường đang phát triển với tốc độ chóng mặt đã gây ra sự hiểu lầm cho khách hàng. Khách hàng rất khó phân biệt được trang thông tin điện tử/ứng dụng di động giả mạo với trang thông tin điện tử/ứng dụng di động chính thống của công ty tài chính được Ngân hàng Nhà nước cấp phép thành lập và hoạt động, từ đó nhiều khách hàng lo lắng và chưa sẵn sàng thanh toán nợ vay.

Nợ xấu còn phát sinh từ việc, nhiều người khi vay tiền có thái độ hạn chế về sự thành thật, không trung thực khai báo thông tin cá nhân và trách nhiệm trong việc hoàn trả khoản vay. Họ không hiểu rõ tầm quan trọng của việc thanh toán đúng hạn, đầy đủ và thậm chí có những suy nghĩ sai lệch và chủ đích gian lận khi làm hồ sơ vay.

Bên cạnh đó, tình trạng rủ nhau “bùng nợ tập thể” đã trở thành trào lưu rất tiêu cực tràn lan trên mạng xã hội, khiến nhiều công ty tài chính lâm vào tình trạng khó khăn trong công tác thu hồi nợ.

Về kiến nghị giải pháp, ông Bùi Đức Tài, Phó cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an) đề nghị Hiệp hội Ngân hàng hướng dẫn, khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng thành viên thực hiện một số nội dung.

Một là, tăng cường các hoạt động tuyên truyền cho các nhân viên ngân hàng, tổ chức tín dụng trong chấp hành các quy định của pháp luật và ngành ngân hàng; chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật dữ liệu, thông tin cá nhân liên quan.

Hai là, rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản chỉ đạo, thường xuyên kiểm tra điều kiện hoạt động, việc chấp hành các quy định của các ngân hàng, tổ chức tín dụng để chấn chỉnh các hạn chế, sơ hở liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm.

Ba là, rà soát, khắc phục sơ hở trong quy định, quy trình nghiệp vụ liên quan đến hoạt động của các bộ phận thu hồi nợ, xử lý nợ xấu. Nghiêm cấm các hành vi ký kết các hợp đồng biến tướng với các doanh nghiệp khác để giải ngân cho vay, mua bán nợ, đòi nợ thuê; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Bốn là, ứng dụng hiệu quả cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu để xác thực, làm sạch và loại bỏ tài khoản ngân hàng “ảo”; hỗ trợ ngành ngân hàng, các tổ chức tín dụng, công ty tài chính chính thống rút ngắn thời gian, thủ tục cấp tín dụng cho người dân góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước nói chung, phòng chống hoạt động tín dụng đen nói riêng.

Năm là, phối hợp, cung cấp các thông tin có liên quan đến các hành vi cho vay lãi nặng, cưỡng đoạt tài sản các hành vi khác có dấu hiệu tội phạm do ngành ngân hàng phát hiện để xử lý.

 Kiều hối cuối năm dự báo tiếp tục chảy mạnh

Kiều hối chuyển về Việt Nam từ đầu năm đến nay trên đà tăng và dự báo tiếp tục chảy mạnh trong những tháng cuối năm, nhất là trước dịp lễ, Tết.

Ông Nguyễn Đức Lệnh, Phó giám đốc ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh TP.HCM cho hay, đến cuối tháng 9/2023, lượng kiều hối chuyển về TP.HCM đạt 6,687 tỷ USD, vượt cả năm 2022.

Đây là kết quả ấn tượng và có tác động tích cực đến nền kinh tế trên nhiều phương diện. Theo ông Lệnh, kiều hối chuyển về Thành phố 9 tháng năm 2023 tăng 40% so với cùng kỳ năm 2022 và bằng 101,3% so với cả năm 2022. Riêng quý III/2023, kiều hối chuyển về đạt 2,353 tỷ USD, tăng 6,2% so với quý II/2023. Trước đó, quý II/2023 tăng 4,5% so với quý I/2023. Như vậy, lượng kiều hối chuyển về Thành phố tăng trưởng tích cực, quý sau tăng trưởng cao hơn quý trước và duy trì ở mức tăng trưởng khá.

Thực tế cho thấy, lượng kiều hối chuyển về tăng trưởng tốt còn có tác động hỗ trợ và tích cực đối với thị trường tiền tệ, ngoại hối. Điều này lại càng có ý nghĩa hơn trong bối cảnh các đồng tiền mạnh biến động, lạm phát tại một số quốc gia… gây áp lực nhất định đến tỷ giá và mối quan hệ tỷ giá – lãi suất và lạm phát.

Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc điều hành Khối Kinh doanh tiền tệ (Ngân hàng UOB Việt Nam) cho rằng, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tạm dừng việc tăng lãi suất trong phần còn lại của năm 2023, nên tỷ giá sẽ có biến động, nhưng trong những mức kiểm soát mục tiêu, một phần nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và kiều hối tiếp tục chảy mạnh về Việt Nam.

TS. Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính – ngân hàng đánh giá, lượng kiều hối về TP.HCM đạt gần 6,7 tỷ USD trong vòng 9 tháng đầu năm là con số khá tích cực trong bối cảnh hiện nay. Đáng chú ý, theo số liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh TP.HCM, trong 5 năm trở lại đây, nguồn kiều hối trên địa bàn luôn chiếm tỷ trọng cao so với cả nước. Cụ thể, kiều hối chuyển qua các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế ở TP.HCM năm 2018 chiếm 44,1%, năm 2019 chiếm 48%, năm 2020 chiếm 53,8%, năm 2021 chiếm 52,8%, năm 2022 chiếm 55,03% tổng lượng kiều hối vào Việt Nam.

Ông Nguyễn Đức Lệnh cũng cho hay, kiều hối chuyển về từ khu vực châu Á tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng lượng kiều hối chuyển về Thành phố, chiếm 53,1% và tăng 19,8% so với quý trước.

Theo đánh giá của ông Lệnh, để kiều hối tiếp tục xu hướng tăng trưởng tốt trong thời gian tới, đặc biệt những tháng cuối năm, các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế trực tiếp nhận và chi trả ngoại tệ trên địa bàn TP.HCM cần tiếp tục chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ nhận và chi trả ngoại tệ. Đồng thời, các ngân hàng cần chủ động làm tốt công tác thông tin – truyền thông không chỉ cho người dân trong nước, mà cả kiều bào, người lao động, trí thức đang học tập, sinh sống và làm việc tại nước ngoài về hoạt động dịch vụ này, về tiện ích dịch vụ, phương thức thực hiện và giao dịch, cũng như thông tin kinh tế – xã hội, môi trường kinh doanh… để thu hút mạnh nguồn kiều hối chuyển về.

Theo Ngân hàng Thế giới (WB), tài khoản vãng lai của Việt Nam dự kiến có thặng dư nhỏ trong năm 2023 nhờ thặng dư cán cân thương mại, lượng du khách quốc tế dự kiến tiếp tục tăng và nguồn kiều hối vẫn duy trì tốt…

Cụ thể, tại báo cáo tháng 8/2023, WB cho biết, cán cân thanh toán của Việt Nam được cải thiện trong quý đầu năm 2023, nhờ thặng dư tài khoản vãng lai tăng lên. Tài khoản vãng lai đạt thặng dư ở mức 1,5% GDP của năm 2022 trong quý I/2023, nhờ cán cân thương mại hàng hóa được cải thiện, dòng kiều hối vẫn duy trì (đạt 2,7 tỷ USD), thâm hụt tài khoản thương mại dịch vụ giảm xuống khi lượng du khách quốc tế nhập cảnh tiếp tục phục hồi, đạt 5,6 triệu lượt trong nửa đầu năm 2023 so với 0,6 triệu lượt  trong nửa đầu năm 2022.

WB cho biết, nhập khẩu chững lại và cơ chế quản lý tỷ giá linh hoạt hơn được Ngân hàng Nhà nước ban hành năm 2022 cho phép giao dịch xoay quanh tỷ giá trung tâm với biên độ +5%/-5%, qua đó góp phần giúp thị trường ngoại hối tương đối ổn định trong nửa đầu năm 2023.

Trong khi đó, theo WB, nhu cầu bên ngoài dự kiến từng bước phục hồi từ quý IV/2023 và lấy được đà tăng vào cuối năm 2024, giúp thương mại hàng hóa gia tăng và góp phần cải thiện cán cân thương mại. Lượng du khách quốc tế được dự báo tiếp tục tăng. Nguồn kiều hối dự kiến đạt 14 tỷ USD năm 2023 và 14,4 tỷ USD năm 2024. 

Gỡ tắc tín dụng bất động sản: Doanh nghiệp cần sòng phẳng với người mua nhà

Để gỡ khó cho thị trường bất động sản, cùng với ngân hàng giảm lãi suất hỗ trợ người vay, doanh nghiệp cũng cần có sự thống nhất để đưa mặt bằng giá nhà về mức hợp lý.

“Muốn thị trường bất động sản sôi động hơn, giá nhà phải hợp lý hơn. Thời gian qua, giá nhà giảm rất chậm, thậm chí còn tăng, trong khi lãi suất cho vay giảm mạnh. Doanh nghiệp bất động sản cần thống nhất trong cuộc chơi về giá nhà. Hiện nay, giá nhà rất cao, doanh nghiệp phải cân nhắc mới có thể giải quyết được vấn đề sức mua của thị trường”, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú nhận định tại Hội nghị trực tuyến triển khai Công điện 993/CĐ-Ttg ngày 24/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ.

Theo số liệu của Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA), thị trường bất động sản TP.HCM trong 3 tháng đầu năm nay tăng trưởng -16,2%, 6 tháng tăng trưởng -11%, nhưng lũy kế 9 tháng chỉ còn -8,7%.

Sức mua trầm lắng, giao dịch đóng băng khiến doanh nghiệp khó xoay xở nguồn tiền. Chính vì vậy, tín dụng kinh doanh bất động sản 9 tháng đầu năm tăng mạnh (tăng 21,46%), song doanh nghiệp bất động sản vẫn khát vốn.

“Dù ngân hàng liên tục giảm lãi suất, song nhu cầu vay mua nhà lại liên tục giảm. Nguyên nhân là khách hàng mất niềm tin vào thị trường bất động sản, cùng tâm lý chờ giá nhà xuống thấp hơn nữa”, ông Nguyễn Thanh Tùng, Tổng giám đốc Vietcombank cho hay.

Trong khi đó, ông Lê Ngọc Lâm, Tổng giám đốc BIDV nêu thực tế khác hẳn với những năm trước, đó là, dư nợ bất động sản tiêu dùng tăng rất chậm (chỉ 4%), trong khi những năm trước luôn tăng trưởng trên 20%. Điều này cho thấy cá nhân không mặn mà mua nhà.  

Số liệu của NHNN cho thấy, tính đến cuối tháng 9/2023, tổng dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản của các tổ chức tín dụng tăng 6,04% so với đầu năm và chiếm tỷ trọng 21,46% tổng dư nợ đối với nền kinh tế. Trong đó tín dụng bất động sản tập trung vào mục đích tiêu dùng, tự sử dụng chiếm 64%, dư nợ đối với hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm 36% dư nợ tín dụng lĩnh vực bất động sản.

Tín dụng kinh doanh bất động sản tăng trưởng cao, trong khi tổng dư nợ tín dụng bất động sản vẫn ở mức thấp cho thấy, nhu cầu vay mua nhà của người dân đang giảm mạnh.

Theo lãnh đạo các ngân hàng thương mại, tín dụng tiêu dùng (cá nhân vay mua nhà) tăng chậm không phải do lãi suất, mà là do giá nhà hiện nay quá cao.

“Mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm khoảng 2,5% cho cả chủ đầu tư và người mua nhà, nhưng giá bất động sản giảm rất ít, chưa phù hợp với người mua nhà để ở”, ông Nguyễn Thanh Tùng chia sẻ.

Trên thực tế, ngay cả doanh nghiệp bất động sản cũng thừa nhận, vốn và tín dụng không còn là khó khăn nhất hiện nay.

Chủ tịch GP.Invest Nguyễn Quốc Hiệp cho biết, 90% các vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến vấn đề pháp lý, thủ tục hành chính. Do đó, doanh nghiệp rất mong mỏi các khía cạnh về pháp lý mà Quốc hội đang cân nhắc thông qua.

“Ví dụ như giải phóng mặt bằng, thủ tục và cơ chế thu hồi kéo dài… có Dự án 15 năm chưa xong công tác này. Về thủ tục đầu tư, hiện 1 dự án phải xin trên 30 con dấu. Điều này bào mòn sức khỏe của doanh”, ông Hiệp giãi bày.

Ông Nguyễn Văn Đính, Phó chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam cho biết, cả nước đang có tới 1.200 dự án nằm chờ tháo gỡ, nhưng chỉ có khoảng 500 dự án đang được xem xét, tức là có trên 800 dự án tiếp tục nằm chờ.

Với các vướng mắc pháp lý, không chỉ doanh nghiệp khó mà ngân hàng cũng kẹt. Tổng giám đốc BIDV nêu thực tế, thời gian qua, BIDV ban hành gói cho vay nhà ở thương mại giá rẻ với lãi suất rất cạnh tranh, nhưng các dự án vướng mắc pháp lý rất nhiều, vì vậy, sau gần 1 năm, BIDV phê duyệt khoảng 26.000 tỷ đồng, nhưng mới giải ngân 8.000 tỷ đồng.

Tất nhiên, khó khăn của thị trường bất động sản hiện nay không chỉ do vấn đề pháp lý, bản thân thị trường bất động sản và doanh nghiệp bất động sản đang có rất nhiều tồn tại. Đó là sự mất cân đối cung cầu tại các phân khúc, dư thừa nhà ở cao cấp, biệt thự, trong khi nhà ở xã hội, nhà ở giá rẻ còn hạn chế; Nhu cầu của thị trường tại một số phân khúc đang có sự sụt giảm mạnh.

Ngoài ra, năng lực tài chính của doanh nghiệp còn hạn chế và phụ thuộc vào nguồn huy động bên ngoài. Vì vậy, lãnh đạo các ngân hàng cho rằng, bản thân doanh nghiệp phải nâng cao khả năng minh bạch, uy tín trong thực hiện cam kết với khách hàng, với ngân hàng thì mới tạo được niềm tin để ngân hàng cấp vốn. 

Đỉnh đáo hạn sắp đến, HoREA kiến nghị ngân hàng được mua TPDN phát hành để đảo nợ

Theo Hiệp hội Bất động sản TP.HCM (HoREA), tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn năm 2024 lên đến 329.500 tỷ đồng, cao hơn gần 22% so với năm nay. Việc phát hành trái phiếu mới để đảo nợ vẫn rất khó khăn vì thiếu vắng bên mua.

HoREA khẳng định,m áp lực thanh toán trái phiếu doanh nghiệp đến hạn năm 2024 của doanh nghiệp bất động sản là rất lớn, là năm có lượng trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn cao nhất.

Theo dữ liệu của Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), trong tháng 10/2023, có 23 đợt phát hành riêng lẻ với tổng giá trị 26.326 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp được ghi nhận là 214.890 tỷ đồng. Tổng giá trị trái phiếu đã được các doanh nghiệp mua lại trước hạn lũy kế từ đầu năm đến nay đạt 195.701 tỷ đồng, tăng 23,4% so với cùng kỳ năm 2022 và tương đương 91% giá trị phát hành. ngân hàng là nhóm ngành dẫn đầu về giá trị mua lại, chiếm 47,8% tổng giá trị mua lại trước hạn (tương ứng 93.490 tỷ đồng).

Riêng trong hai tháng cuối năm 2023, tổng giá trị trái phiếu sẽ đến hạn là 39.309 tỷ đồng. 40% giá trị trái phiếu sắp đáo hạn thuộc nhóm bất động sản. Tương tự, gần một nửa trái phiếu doanh nghiệp đáo hạn năm 2024 cũng thuộc về nhóm ngành bất động sản.

Với tình hình thị trường trái phiếu doanh nghiệp trầm lắng như hiện nay, HoREA kiến nghị Ngân hàng Nhà nước bỏ  bỏ” điểm a khoản 8 Điều 4 Thông tư 16/2021/TT-NHNN theo hướng không cầm các tổ chức tín dụng mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành với mục đích đảo nợ. Theo quy định hiện hành của Thông tư 16, các ngân hàng không được mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành với mục đích cơ cấu lại các khoản nợ của chính doanh nghiệp phát hành.

HoREA cho rằng, quy định trên của Thông tư 16 thiếu sự thống nhất với Nghị định số 65/2022/NĐ-CP (sửa đổi khoản 2 Điều 5 Nghị định 153/2020/NĐ-CP) cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu với mục đích cơ cấu lại nợ của chính doanh nghiệp hoặc mục đích phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Đặc biệt, Thông tư 16/2021/TT-NHNN ngày 10/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước được ban hành trước 1 năm so với Nghị định 65/2022/NĐ-CP ngày 16/09/2022, mà Nghị định số 65/2022/NĐ-CP đã cho phép doanh nghiệp phát hành trái phiếu với mục đích đảo nợ, nên rất cần bỏ điều khoản trên do đã “vênh” và không còn phù hợp với quy định của Nghị định 65/2022/NĐ-CP.

Vinhomes, Novaland, Hưng Thịnh, GP.Invest… kiến nghị gì về tín dụng bất động sản?

Sáng 13/11, tại Hà Nội, NHNN Việt Nam phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức Hội nghị tín dụng đối với bất động sản và phát triển nhà ở xã hội. Hội nghị có sự tham gia của 35 ngân hàng thương mại và 22 doanh nghiệp bất động sản, đa phần là các tên tuổi lớn như: Vingroup, Hưng Thịnh, Văn Phú – Invest, Geleximco, Becamex, Novaland, Him Lam, Sun Group, Masterise, GP.Invest, IMG…

Theo số liệu của NHNN, từ đầu năm đến nay, tín dụng bất động sản tăng 6,04%, riêng tín dụng kinh doanh bất động sản tăng gần 22%. Từ đầu năm đến nay, NHNN đã 4 lần giảm lãi suất điều hành, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm nhanh hơn kỳ vọng (giảm 2-2,5%).

Tại Hội nghị sáng nay, nhiều doanh nghiệp bất động sản thừa nhận, khó khăn lớn nhất với bất động sản hiện nay là pháp lý. Tuy vậy, liên quan tới tín dụng, các doanh nghiệp vẫn mong được tiếp cận vốn rẻ hơn, thủ tục thông thoáng hơn, tài sản đảm bảo được định giá tốt hơn…

f
Ông Phạm Thiếu Hoa, Chủ tịch HĐQT CTCP Vinhomes

Ông Phạm Thiếu Hoa, Chủ tịch HĐQT CTCP Vinhomes cho hay, hiện nay, các doanh nghiệp bất động sản chưa tiếp cận được lãi suất thấp, nhất là với các khoản vay cũ. Ngân hàng thương mại hạn chế room tín dụng và có xu hướng ưu tiên lựa chọn khách hàng chấp nhận lãi suất cao.

Một vấn đề nữa là hiện nay tài sản đảm bảo của doanh nghiệp đang thấp hơn giá trị thị trường do thị trường bất động sản đóng băng, không có nhiều giá tham chiếu. Các ngân hàng cũng chỉ chấp nhận tài sản thế chấp là bất động sản, không nhận trái phiếu, cổ phiếu, máy móc thiết bị.

Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch GP.Invest lại cho hay, tập đoàn này không vướng mắc về tín dụng ngân hàng tại thời điểm hiện tại. Tuy vậy, từ những thực tế đang diễn ra, ông Hiệp đưa ra một số đề xuất.

Thứ nhất, theo ông Hiệp, các ngân hàng thương mại phải rút gọn quy trình thẩm định, giải ngân xuống trong vòng 1 tháng thay vì 2-3 thá như hiện nay. Đồng thời, đơn giản hồ sơ vay vốn. hiện nay, các ngân hàng yêu cầu doanh nghiệp cung cấp rất nhiều giấy phép con trong hồ sơ vay vốn.  Bên cạnh đó, nhiều ngân hàng cũng không cho doanh nghiệp vay tiền để chi giải phóng mặt bằng, trong khi chi phí này của doanh nghiệp là rất lớn.

Thứ hai, về lãi suất, doanh nghiệp này cho hay, lãi suất cho vay tại công ty ông đã giảm từ mức 10,5%/năm tháng 6/2023 xuống 9,5%/năm, song lãi vay này- theo ông Hiệp- vẫn đang ở mức cao và đề nghị ngân hàng tiếp tục giảm xuống.     

Về phía tập đoàn Novaland,  ông Dennis Ng Teck Yow -Tổng giám đốc Tập đoàn Novaland cho biết khó khăn về pháp lý – chiếm đến 80% các khó khăn hiện tại của doanh nghiệp bất động sản và gây ra rất nhiều hệ lụy xấu. Nếu không được giải quyết kịp thời, con số doanh nghiệp giải thể, phá sản trong những tháng tiếp theo sẽ tăng cao.

“Kính đề nghị Chính phủ phối hợp cùng UBND các tỉnh/thành phố hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bất động sản phát triển Dự án đồng bộ đúng với chỉ tiêu được giao. Chính phủ và Quốc hội cân nhắc xem xét, kiện toàn Luật đầu tư để Quy trình Đầu tư – Giao đất – Quy hoạch – Cấp phép xây dựng được diễn ra nhanh chóng, minh bạch, tiết kiệm nguồn vốn cho xã hội.

Theo Novaland, thị trường bất động sản đã qua thời điểm khó khăn nhất, riêng Novaland đã hoàn thành 80% việc tái cấu trúc hoạt động. Tuy nhiên, để doanh nghiệp tiếp tục vượt qua khó khăn cần sự tiếp sức đồng hành của các cơ quan chức năng.

Ngoài sự hỗ trợ của chính sách tiền tệ, Novaland mong mỏi chính sách tài khóa chung tay hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách giãn thuế năm nay và nửa đầu năm tới.

“Kính đề nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, Ban, Ngành có chính sách giảm thuế và giãn thuế TNDN cho các doanh nghiệp bất động sản để tháo gỡ khó khăn và tập trung ổn định kinh doanh trong 3 năm (năm 2022, 2023 và 2024)”, Tổng giám đốc Novaland kiến nghị.

Cũng tại Hội nghị, ông Lâm Hoàng Đăng, Phó tổng giám đốc CTCP Đầu tư Văn Phú – Invest (Mã: VPI) cho biết, quy định của NHNN liên quan đến việc vay vốn phát triển dự án phải có vốn tự có là 30% đang làm khó các chủ đầu tư. Bởi khi thị trường địa ốc khó khăn, doanh nghiệp vẫn phải trả lãi, trả gốc vay và các chi phí khác thì bản thân doanh nghiệp phải ứng vốn tự có của mình ra. Vì vậy, số vốn tự có này dần dần sẽ bị giảm đi, gây áp lực rất lớn cho các doanh nghiệp. Do đó, vị này kiến nghị NHNN xem xét giảm tỷ lệ này xuống còn 10 – 15% để giúp doanh nghiệp vượt qua trong giai đoạn khó khăn.

Trong khi đó, về phía Tập đoàn Hưng Thịnh, ông Nguyễn Văn Cường, Phó Chủ tịch Tập đoàn lại đề xuất NHNN có chính sách nới room tín dụng cho những ngân hàng tham gia tái cơ cấu thị trường bất động sản, thực hiện tốt chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Thứ hai, trong điều kiện pháp lý các Dự án bất động sản đang triển khai kéo dài như thời gian qua, đề nghị các ngân hàng tối giản hóa các điều kiện cho vay các Dự án bất động sản, đồng thời kéo dài thời gian cho vay với doanh nghiệp lĩnh vực cung cấp vật liệu xây dựng, doanh nghiệp thi công để các doanh nghiệp này giảm áp lực. Thời gian qua, các nhà thầu, đơn vị cung cấp vật liệu xây dựng chỉ được vay 6-12 tháng, từ đó gây áp lực trở lại với chủ đầu tư.

Liên quan tới kiến nghị của các doanh nghiệp, Phó Thống đốc Đào Minh Tú chỉ đạo, với các điều kiện đã được quy định trong Luật, ngân hàng không thể nới. Tuy nhiên, với các điều kiện thuộc thẩm quyền của ngân hàng thương mại thì các ngân hàng căn cứ từng trường hợp cụ thể để tháo gỡ cho doanh nghiệp.

Liên quan đến room tín dụng, Phó Thống đốc cho hay, hiện doanh nghiệp chỉ vướng ở room tín dụng mà các ngân hàng thương mại cấp cho từng khách hàng, còn room tín dụng toàn hệ thống thì vẫn đang dư thừa. 

Phó Thống đốc cũng cho rằng, để thị trường bất động sản sôi động hơn, doanh nghiệp bất động sản cần có sự thống nhất trong cuộc chơi giá nhà. Hiện nay, giá nhà vẫn tăng cao trong khi lãi vay giảm mạnh. Chỉ khi giải quyết được vấn đề giá nhà thì mới giải quyết được vấn đề sức mua thị trường.  

Về phía ngân hàng thương mại, ông Nguyễn Thanh Tùng, Tổng Giám đốc Vietcombank cho hay, bất động sản là lĩnh vực đặc biệt quan trọng với Vietcombank. Hiện dư nợ bất động sản đang chiếm gần 25% tổng dư nợ của Vietcombank.

Ông Tùng cũng chỉ ra một số bất cập của thị trường bất động sản hiện nay. Thứ nhất, dự án nhà ở xã hội khan hiếm, một số dự án không bán được, nguyên nhân là do đối tượng mua nhà ở xã hội, nhà ở công nhân được quy định quá chặt chẽ, ít đối tượng, các đối tượng thỏa mãn điều kiện lại khó chứng minh khả năng trả nợ khi vay vốn ngân hàng.

Thứ hai, cơ cấu thị trường bất động sản chưa cân đối, thiếu phân khúc nhà ở có giá cả phù hợp với thu nhập người dân. Từ đầu năm đến nay, lãi vay đã giảm 2,5% nhưng giá nhà không giảm, thậm chí còn tăng.

Thứ ba, người mua nhà còn có tâm lý chờ đợi giá xuống hoặc chưa có điều kiện mua nhà. Vietcombank có danh mục khách hàng cá nhân rất tốt song từ đầu năm đến nay, lượng tiền gửi vẫn ùn ùn chảy vào ngân hàng bất chấp lãi suất thấp. Trong khi đó, dư nợ vay mua nhà lại liên tục sụt giảm.

Về ý kiến lãi suất cho vay một số ngân hàng còn cao, ông Tùng cho hay, lãi vay phụ thuộc vào năng lực tài chính của mỗi ngân hàng. Tinh thần chung các ngân hàng đều giảm lãi suất cho vay, song việc giảm đến đâu còn phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng, nếu cơ cấu nguồn vốn giá cao thì phải cho vay lãi suất cao. Bên cạnh đó, các ngân hàng có nợ xấu cao, phải trích lập dự phòng lớn thì giá vốn cũng bị đẩy lên cao, dẫn tới lãi suất cho vay cao.

Ông Tùng khuyến nghị, các chủ đầu tư cần nâng cao năng lực tài chính, thực hiện đúng cam kết với người mua nhà, tập trung vào phân khúc nhu cầu thực… thì mơi tạo niềm tin được với các ngân hàng. 

Nợ xấu cao, “cổ phiếu vua” có còn hấp dẫn?

Báo cáo tài chính quý III/2023 của các ngân hàng niêm yết cho thấy, chất lượng tài sản đang suy giảm khi nợ xấu cao, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm. Triển vọng ngành ngân hàng năm 2024 khá lạc quan, song nhiều chuyên gia tỏ ra kém mặn mà với “cổ phiếu vua”.

Tính tới cuối tháng 9/2023, có tới 22/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận tỷ lệ nợ xấu tăng vọt so với đầu năm nay. Tổng nợ xấu của các ngân hàng niêm yết này tăng tới 61% so với đầu năm. Chất lượng tài sản của ngành ngân hàng suy giảm còn thể hiện qua tỷ lệ bao phủ nợ xấu đã giảm từ mức 143% cuối năm nay xuống mức 94% trong quý III/2023. Tỷ lệ nợ xấu của khối ngân hàng niêm yết đang ở mức 2,24% – mức cao nhất kể từ năm 2017.

Không chỉ nợ xấu tăng cao, mà thu hồi, xử lý nợ xấu cũng ngày càng khó khăn do thị trường bất động sản gặp nhiều bất lợi. So với năm ngoái, thu từ nợ đã xử lý rủi ro của nhiều ngân hàng giảm đến một nửa. Chẳng hạn, tại TPBank, thu từ nợ đã xử lý rủi ro giảm 73% so với cùng kỳ. Con số này tại Techcombank và VPBank lần lượt là 52% và 41%.

Điểm tích cực là nợ nhóm 2 đã có dấu hiệu giảm trong quý III/2023, cho thấy sự hình thành nợ xấu đang chậm lại. Tuy nhiên, chuyên gia phân tích VNDirect cho rằng, trong bối cảnh hoạt động kinh tế còn khó khăn, chi phí dự phòng sẽ tiếp tục bào mòn lợi nhuận của các ngân hàng trong những quý tới.

Hiện tại, chất lượng tài sản của các ngân hàng có sự phân hóa rõ rệt. Nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh có bộ đệm dự phòng cao nhất, như Vietcombank (270%),

VietinBank (172%), BIDV (158%), trong khi nhóm ngân hàng nhỏ có tỷ lệ dự phòng rủi ro dưới 100% và gặp nhiều áp lực trích lập dự phòng thời gian tới.

Các chuyên gia cho rằng, trong giai đoạn hiện nay, ngân hàng nên chú trọng gia cố chất lượng tài sản, hơn là tăng trưởng lợi nhuận.

Hiện nay, lợi nhuận từ hoạt động cho vay vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của các ngân hàng. Bà Nguyễn Thị Phương Lam, Giám đốc Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, nếu chất lượng tài sản suy giảm, chi phí dự phòng của ngân hàng sẽ gia tăng, ảnh hưởng đến lợi nhuận. Các ngân hàng có bộ đệm dự phòng lớn có thể sử dụng bộ đệm này để bảo vệ lợi nhuận trong bối cảnh nợ xấu gia tăng. Ngược lại, một số ngân hàng có bộ đệm dự phòng mỏng sẽ chịu áp lực trích lập dự phòng tăng cao, ăn mòn lợi nhuận.

Ông Nguyễn Quốc Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, tình hình kinh tế khó khăn đã tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 02/2023/TT-NHNN về cơ cấu nợ, giãn nợ, song nợ xấu vẫn gia tăng một cách đáng lo ngại.

Theo ông Hùng, việc xử lý nợ xấu không thể để ngành ngân hàng đơn thương độc mã, mà cần sự hỗ trợ của nhiều bộ, ngành, địa phương.

Ông Hùng hy vọng, Quốc hội sẽ sớm thông qua Dự thảo Luật Các tổ chức tín dụng. Việc luật hóa Nghị quyết 42/2017/NQ14 về thí điểm xử lý nợ xấu sẽ giúp các ngân hàng có thêm công cụ để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu.

Từ đầu năm đến nay, nhóm cổ phiếu chứng khoán, bất động sản nhiều phen dẫn dắt thị trường, trong khi nhóm cổ phiếu ngân hàng (chiếm 30% vốn hoá thị trường) lại khá ì ạch.

Triển vọng cổ phiếu ngân hàng năm tới phụ thuộc rất nhiều vào khả năng phục hồi tín dụng cũng như mức độ cải thiện biên lãi thuần (NIM) của các ngân hàng.

Bà Hoàng Việt Phương, Giám đốc SSI Research cho rằng, rất khó đưa ra khuyến nghị chung cho toàn ngành, vì cổ phiếu ngân hàng có sự phân hóa mạnh. Thực tế, trong quý III/2023, có nhiều ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận dương, song cũng có nhiều ngân hàng sụt giảm mạnh lợi nhuận.

Theo bà Phương, lợi nhuận ngân hàng năm 2024 có thể cải thiện hơn năm nay, dự kiến tăng trưởng 17% với giả định tín dụng hồi phục, kinh tế khởi sắc hơn và NIM được cải thiện do giá vốn đầu vào của các ngân hàng đang liên tục giảm.

Nhìn chung, các chuyên gia đều kỳ vọng, quý III/2023 là đáy của khó khăn, tín dụng sẽ phục hồi tốt hơn vào năm 2024, cùng sự phục hồi của nền kinh tế. Tuy vậy, tất cả vẫn là kỳ vọng. Kinh tế phục hồi hay không phụ thuộc rất nhiều vào sức cầu và sự phục hồi của kinh tế thế giới.

Dù khó có đột phá, song cổ phiếu ngân hàng vẫn được đánh giá là nhóm ngành phù hợp để tích lũy và “tránh bão” do định giá đang ở mức thấp, triển vọng tăng trưởng ổn định.

Ông Nguyễn Anh Đức, Giám đốc Khối Dịch vụ chứng khoán khách hàng tổ chức (Công ty Chứng khoán SSI) cho rằng, về dài hạn, cổ phiếu ngân hàng vẫn có nhiều điểm sáng, như chất lượng tài sản có thể cải thiện, tín dụng có thể tăng trưởng tốt hơn, NIM cao hơn.

Về ngắn hạn, trong bối cảnh tín dụng tăng chậm, chuyên gia này giữ quan điểm trung lập với “cổ phiếu vua”.

Các chuyên gia cũng khuyến nghị nhà đầu tư thận trọng với các ngân hàng có dư nợ trái phiếu doanh nghiệp lớn. Thời hạn thanh toán trái phiếu đã được giãn, hoãn 1-2 năm, song hết thời gian này, rủi ro nợ xấu trái phiếu có thể xuất hiện, khiến nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro tăng lên, đồng nghĩa lợi nhuận giảm.

Hơn nữa, dù lãi suất huy động của các ngân hàng vừa bước vào một đợt giảm mới, song NIM chưa chắc giảm tương ứng, vì lượng vốn huy động giá cao tồn kho vẫn còn, trong khi các ngân hàng cũng đang chịu áp lực giảm lãi suất cho vay lớn. 

Tín dụng đang tăng trưởng phù hợp GDP, lãi suất điều hành có thể hạ thêm từ năm sau

TS. Võ Trí Thành, chuyên gia kinh tế cho rằng, thời điểm hiện tại, lãi suất điều hành khó giảm do áp lực tỷ giá. Tuy vậy, từ giữa đến cuối năm sau, nếu Fed giảm lãi suất, NHNN sẽ hạ thêm lãi suất điều hành.

Phát biểu tại Hội thảo “Tháo van tín dụng – Khơi thông tăng trưởng” do Báo Dân trí tổ chức sáng 17/11, TS. Võ Trí Thành cho rằng, từ nay đến đầu 2024, việc hạ lãi suất điều hành sẽ gặp khó khăn bởi áp lực tỷ giá. “Chúng ta không thể để VND mất giá, bởi nếu tình trạng này xảy ra, không là dòng tiền mà bản thân doanh nghiệp sẽ rất khó khăn. Chúng ta sẽ phải chấp nhận VNĐ mất giá song chỉ ở mức độ nhất định, không thể để mất giá quá lớn”, chuyên gia này nhận định.

Riêng với lãi suất cho vay, các ngân hàng thương mại đã giảm khoảng 2-2,5%/năm so với đầu năm. Mức giảm này vượt quá kỳ vọng của NHNN đặt ra đầu năm nay song vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp.

Dù vậy, TS. Võ Trí THành cho rằng, ngân hàng thương mại huy động lãi suất cuối năm 2022 và đầu năm 2023 rất cao nên nếu hạ nhanh lãi suất cho vay sẽ lỗ nặng. Tuy vậy, các ngân hàng đều có tệp khách hàng riêng, có khẩu vị riêng và có gói tín dụng ưu đãi với từng nhóm khách hàng ưu tiên của mình.

“Tôi hi vọng lãi suất của Fed sẽ giảm từ giữa năm sau, hệ thống ngân hàng trong nước ổn hơn một chút  thì có thể ngân hàng nhà nước sẽ hạ lãi suất điều hành thêm chút nữa. Hiện tại chúng ta cố gắng giữ lãi suất hiện nay bởi áp lực tỷ giá vẫn còn”, ông Thành nói.   

Về phía ngân hàng thương mại, ông Trần Hoài Phương, Giám đốc Khối khách hàng doanh nghiệp HDBank cho biết, lãi suất cho vay hiện nay đã thấp hơn quý trước song các ngân hàng vẫn vất vả tìm khách hàng tốt để cho vay.

“Các ngân hàng phải bỏ công sức nhiều hơn để tìm doanh nghiệp tốt trong giai đoạn hiện tại. HDBank có chương trình tốt cho khách hàng, thấp hơn cả so với lãi suất huy động. Những nhà cung ứng cho doanh nghiệp mua hàng có sức khỏe tốt sẽ được hưởng lãi suất ưu đãi”, ông Phương cho hay.

Lý giải về việc ngân hàng thừa tiền, doanh nghiệp vẫn kêu khó tiếp cận vốn, ông Phương chỉ ra những khó khăn chính yếu, đồng thời khuyên doanh nghiệp nên tránh ba điều để tạo niềm tin cho ngân hàng. Đầu tiên là không nên mất cân đối tài chính, vốn ròng phải lớn hơn 0, không lấy vốn ngắn hạn để sống trong dài hạn. Thứ hai, không nên để nợ quá hạn. Thứ ba là vòng quay vốn không dài.

Với các ý kiến cho rằng, tín dụng từ đầu năm đến nay tăng chậm, PGS.TS. Nguyễn Đức Trung – Hiệu trưởng Đại học Ngân hàng TP.HCM tỏ ra không tán thành. 

Theo chuyên gia này, nếu GDP chỉ tăng 4,7-5% thì tín dụng chỉ 11-12% là hợp lý.Tín dụng 10 tháng đầu năm đã tăng 7,49% rồi, hai tháng cuối năm có thể tăng 2%/tháng do yếu tố mùa vụ.

“Tóm lại, tín dụng từ đầu năm đến nay tăng trưởng với tốc độ như vừa qua là bình thường, đúng chu kỳ. Chỉ có điều chúng ta tính đến điều xấu nhất để đưa giải pháp tốt nhất. GDP chỉ tăng 4,7% thì phải tính lại tăng trưởng tín dụng (chỉ 11-12% là phù hợp, không nên nhắc đặt mục tiêu tăng 14-15%)”, ông Trung khuyến nghị.

Về vấn đề này, TS Võ Trí Thành nói thêm, thực chất Việt Nam đang dùng đòn bẩy tài chính quá cao (tín dụng/GDP lên tới 130%). Theo ông Thành, trong tương lai, khi thị trường vốn phát triển thì tín dụng Việt Nam chỉ nên tăng ở mức 10%/năm, không nên ở mức 13-15% như hiện nay. 

“Về hạn mức tăng trưởng tín dụng (room), ít nhất 2 năm tới, trừ khi hệ thống tài chính lành mạnh thì chưa thể bỏ cơ chế cấp room tín dụng được”, chuyên gia này góp ý thêm.  

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

jun88

jun88

789win

12Bet

Sex